Trang chủ

Muc luc

Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Giới thiệu về nhà trọ Bà Điểm

Giới thiệu về nhà trọ Bà Điểm
Nằm ở cửa ngõ của thành phố, Nhà trọ Bà Điểm có hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai, tỉnh lộ, hương lộ khá hoàn chỉnh. Chợ truyền thống, siêu thị, khu công nghiệp nằm gần kề cận cũng là thế mạnh về giao thong, sinh sống, sinh hoạt hàng ngày,  tất cả tạo cho nhà trọ Bà Điểm một vị trí thuận lợi để an cư lạc nghiệp và đô thị hóa, hỗ trợ cho nội thành giảm áp lực dân cư  

Ngoài ra khu vực chung quanh nhà trọ Bà Điểm còn sở hữu những địa điểm tham quan như di tích Ngã Ba Giồng, vườn trầu Bà Điểm, Bảo tàng Hóc Môn...cùng nhiều di tích tôn giáo khác như: chùa Hoằng Pháp, Chơn Đức Thiền Viện, đền Phan Công Hớn.

Nhiều địa điểm ăn uống, vui chơi khu vực chung quanh nhà trọ Bà Điểm áp dụng mô hình sân vườn, sông nước. Nổi bật nhất trong đó là khu nghỉ dưỡng Villa H2O được xây dựng như một làng quê Nam Bộ, rất phù hợp cho các buổi picnic, cắm trại hay tổ chức đám cưới. Khu vực xung quanh chùa Hoằng Pháp tập trung rất nhiều quán phục vụ các món chay rất đa dạng. Bên cạnh đó còn có nhiều cửa hiệu bán các mặt hàng được sử dụng nhiều trong Phật giáp như: nhang đèn, phục trang của đạo, tượng Phật...

Nguyễn Ảnh Thủ

Nguyễn Ảnh Thủ (1821-1871) là nhà cách mạng chống Pháp trong phong trào Cần vương
Ông xuất thân trong một gia đình giàu có tại làng Tân Sơn Nhì, Bà Quẹo, huyện Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay là quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh).
Hưởng ứng phong trào Cần vương, dưới cờ nghĩa quân Trương Định, ngày 29 tháng 6 năm 1871 (nhằm ngày 11 tháng 5 năm Tân Mùi) Nguyễn Ảnh Thủ phát động khởi nghĩa. Nghĩa quân của ông đánh chiếm làng Bà Điểm, tiến đánh đồn Thuận Kiều, giết chết trưởng đồn Lepazsuie
Khi quân Pháp tấn công tái chiếm các vùng do nghĩa quân kiểm soát, ông tử trận.
Ông được nhân dân lập đền thờ tại tổ 60, khu phố 5, phường Tân Thới Nhất, quận 12, TP HCM (ngày nay).[1]

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

Nuôi bò sữa huyện Hóc Môn - TPHCM

Trại nuôi bò của anh Nguyễn Văn Cư nằm tại số 6/1D, ấp Xuân Thới Đông 1, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn - TPHCM, nơi có gần 50 con bò đang cho sữa. “Giờ đây, cuộc sống gia đình tôi khá giả hơn. Tất cả là nhờ công chị Hường vì đã tận tình chỉ dẫn kỹ thuật nuôi bò cùng cách nuôi trùn quế”- anh Cư cho biết.
Hết lòng với nông dân
Gia đình anh Cư trước đây sống bằng nghề nuôi heo. Trong quá trình nuôi, heo của anh thường xuyên gặp phải bệnh dịch. Giữa lúc không biết làm nghề gì để mưu sinh, tình cờ anh gặp được chị Nguyễn Thị Hường, một nông dân nuôi bò sữa điển hình của huyện. “Chị ấy khuyên tôi nên chuyển sang nuôi bò sữa vì vừa có thu nhập ổn định, bò lại ít bị bệnh. Tôi nuôi thử 5 con, không ngờ chỉ một năm sau, đàn bò nhà tôi phát triển. Từ đó, tôi tiếp tục nhân giống, có lúc lên đến 80 con” - anh kể. Ngoài nuôi bò, anh còn được chị Hường hướng dẫn kỹ thuật nuôi trùn quế. Với quy trình nuôi bò kết hợp nuôi trùn quế, kinh tế gia đình anh Cư ngày càng được cải thiện.

Chị Nguyễn Thị Hường bên đàn bò sữa của gia đình
Đến ấp Thới Tây 2, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, hỏi chị Nguyễn Thị Hường ai cũng biết. Bởi chị không chỉ là một nông dân sản xuất giỏi mà còn hay giúp đỡ, hỗ trợ bà con nông dân nghèo về giống, kỹ thuật chăn nuôi bò, nuôi trùn quế. Mới đây, chị còn bảo lãnh giúp 5 hộ chăn nuôi mua máy vắt sữa bò. Chỉ chiếc máy vắt sữa nằm cạnh đàn bò hơn 40 con, ông Lê Văn Xinh, ấp Xuân Thới Đông 1, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, nói: “Nhờ chiếc máy này mà gia đình tôi tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí cho quá trình vắt sữa. Đặc biệt, khi dùng máy, nguồn sữa sẽ bảo đảm vệ sinh, các đại lý sẽ thu mua giá cao”.
Vươn lên từ nghèo khó
Từng là nông dân nên chị Nguyễn Thị Hường luôn hiểu và thông cảm với nỗi khổ của người dân khi mất mùa hay gặp phải dịch bệnh. Trước khi đến với nghề nuôi bò, chị Hường từng làm ruộng. “Hồi ấy, mỗi khi đi ra đồng, thấy những bờ cỏ non xanh mướt tôi liền bàn với chồng thử nuôi bò thịt. Chỉ sau vài năm, đàn bò sinh sôi nảy nở” - chị nhớ lại. Thành công với mô hình nuôi bò thịt, chị lại lấn sang nuôi bò sữa. Nhờ siêng năng mà đàn bò sữa tăng dần, từ vài con ban đầu, giờ lên đến khoảng 100 con.  
Chị Hường cho rằng trong cuộc đời làm nông chị luôn gặp may mắn. Nhưng để có được sự may mắn ấy, chị đã phải học hỏi không ngừng, luôn năng động, sáng tạo trong quá trình làm việc. Khi đàn bò sữa phát triển, phân bò ngày một nhiều, chị liền nghĩ đến việc nuôi trùn quế. “Tôi đi nhiều nơi, học hỏi các mô hình để áp dụng. Gặp môi trường tốt, trùn quế phát triển nhanh, có giai đoạn tôi bán 500 kg/ngày. Chỉ từ tiền bán trùn, tôi cất được căn nhà mới khang trang”- chị Hường tâm sự.
Bước sang kinh doanh
Cũng trong quá trình nuôi bò, những lúc bán sữa, chị thấy mình cùng nhiều nông dân khác thường bị các đại lý thu mua ép giá. Chị liền nghĩ: “Sao không thành lập trạm thu mua để tiêu thụ sữa cho bà con nông dân”. Năm 2005, trạm thu mua sữa của chị được hình thành đặt tại chân Cầu Xáng (huyện Hóc Môn). Để sữa đạt chất lượng, chị thường hướng dẫn cho bà con kỹ thuật nuôi bò, cách cho ăn phù hợp. Nhờ thế mà bà con đến với chị ngày một đông. Đến nay, chị đã xây dựng được 70 hộ dân làm cơ sở vệ tinh, cung cấp 6,5 tấn sữa tươi mỗi ngày.
Ngoài nuôi bò, thu mua sữa, hiện chị Hường còn làm đại lý thức ăn gia súc đáp ứng nhu cầu cung cấp thực phẩm cho quá trình chăn nuôi của bà con nông dân. Trong quá trình kinh doanh, chị Hường cũng thường xuyên ủng hộ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt, hỗ trợ học bổng cho trẻ em nghèo... Chị nhấn mạnh: “Tôi mong muốn được chia sẻ khó khăn với mọi người, nhất là những người nông dân một nắng hai sương. Làm được điều ấy, tôi thấy mình hạnh phúc vì được đóng góp cho cộng đồng, xã hội”.

“Với sự phấn đấu vươn lên, chị Nguyễn Thị Hường đã vinh dự nhận được danh hiệu “Người nông dân tiêu biểu”- TPHCM năm 2012; Phụ nữ làm kinh tế giỏi cùng nhiều bằng khen, giấy khen khác”.
Bà Lê Thị Cúc
(Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn - TPHCM)

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

Phan Văn Hớn

Phan Văn Hớn, người làng Tân Thới Nhứt (nay là xã Bà Điểm) huyện Hóc Môn[2] tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông là một nông dân văn hay, võ giỏi, có nhiều mưu trí, có tấm lòng hào phóng, ngay thẳng, biết thương yêu đồng bào. Ông thường đứng ra chống lại bọn cường hào và những người thân Pháp nên bị họ căm ghét.[3]
Năm 1879, đốc phủ Trần Tử Ca[4] tri huyện Bình Long (nay là huyện Hóc Môn) là một cộng sự đắc lực của thực dân Pháp, vu khống Phan Văn Hớn mưu loạn khiến ông bị đày ra Côn Đảo 5 năm.
Mãn hạn tù, ông về lại quê nhà, tổ chức hai trường đá gà: một điểm ở ngã tư An sương, một điểm ở xã Bà Điểm để che mắt đối phương và tiện liên hệ với những người chung chí hướng.
Sau một thời gian bí mật tập hợp dân nghèo, rèn sắm vũ khí, tích trữ lương thực...Nhân lời kêu gọi Cần Vương[5] của vua Hàm Nghi, Phan Văn Hớn quyết định khởi nghĩa và thành lập Ban chỉ huy gồm có: Phan Công Hớn (tổng lãnh binh), Nguyễn Văn Quá (chánh lãnh binh), Phạm Văn Hồ (phó lãnh binh), Phan Văn Võ (tức Cai Võ, lo việc nội ứng bên trong dinh huyện Bình Long).
Khởi nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]
Vào 25 tháng chạp năm Giáp Thân (ngày 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1885)[6] Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá (người Đức Hòa, Long An) cùng hơn ngàn nghĩa quân chia làm ba mũi, tấn công vào dinh huyện Bình Long.
Đốc phủ Trần Tử Ca rút lên lầu chống cự, nghĩa quân dùng rơm và dây đậu phộng khô có sẵn trong dinh, đem chất xung quanh nơi Ca ẩn náu rồi châm lửa đốt. Vợ Trần Tử Ca chết cháy. Tử Ca chạy thoát ra ngoài thì bị một nông dân bắt được giao cho quân khởi nghĩa. Đốc phủ Ca bị xử chém, đầu bêu lên cột đèn trước chợ Hóc Môn. Tết năm ấy, ở Hóc Môn có câu:
Mừng xuân có pháo, có nêu
Có đầu đốc phủ đem bêu cột cờ.
Sau đó nghĩa quân kéo xuống tấn công Sài Gòn. Tới Quán Tre (nay thuộc phường Đông Hưng Thuận, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh), đoàn quân chia ra làm hai, một đạo quân tiến thẳng vào Sài Gòn, một đạo quân trú ngoài nội thành chờ hiệu lệnh tiếp ứng.
Thất bại[sửa | sửa mã nguồn]
Tờ mờ sáng, đạo quân đầu tiên tới Bình Hòa (nay thuộc quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị một đội quân Pháp chặn đánh. Thua trận, nhiều nghĩa sĩ bị bắt. Nghe tin dữ, đạo quân thứ hai tự giải tán.[7]
Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá chạy thoát, để uy hiếp hai ông ra hàng, Pháp bắt nhiều người thân của hai ông và nhiều dân thường để khảo tra. Vì thương người, hai ông tự nạp mình.
Hai con trai của Trần Tử Ca là Trần Tử Long, Trần Tử Bản xin phép quan Pháp đến thôn Tân Thới Nhì, là nơi giam giữ ông Hớn, ông Hóa, cật vấn và tra khảo hai ông này rất tàn khốc. Cuối cùng, tất cả người bị Pháp bắt, được đem ra xét xử suốt từ ngày 31 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9 năm 1885, rồi tuyên 14 án tử hình trong đó có Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá.
Rạng sáng ngày 30 tháng 3 năm 1886 (tức ngày 25 tháng 2 âm lịch), hai ông bị hành hình và bị bêu đầu tại chợ Hóc Môn.
Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]
Nhân dân Việt đã đem thi hài ông Phan Văn Hớn về an táng ở địa phận ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn; rồi sau này lập đền thờ Phan Văn Hớn tại nghĩa trang tộc họ Phan cũng ở ấp trên, ngay trong thời kỳ Pháp còn cai quản miền Nam Việt Nam. Hàng năm giỗ ông vào ngày 25 tháng 2 âm lịch. Nghi thức lễ được cử hành như lễ tế thần Thành Hoàng vào dịp lễ Kỳ yên ở đình làng Việt.
Phạm Đại Hưng là một nhân sĩ, có thơ khen ngợi ông:
Thập bát phù viên khởi nghĩa đây,
Ra tay làm thử, rõ ra thầy.
Dân cày nhứt trí, nêu danh nghĩa
Hương chức đồng tâm quyết đấp xây.
Gậy gộc đánh tan phường chiếm đất
Củi rơm thiêu hủy bọn theo Tây.
Anh hùng lãnh đạo công ghi nhớ,
Con cháu phụng thờ miếu mộ xây.
Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]
Ông Lê Doãn Hài (1830-1914) là người ở chợ Hóc Môn[8], và là người chứng kiến đầu đuôi cuộc khởi nghĩa, đã sáng tác bài Vè ông Hớn, ông Quá giết đốc phủ Ca gồm 69 câu thơ lục bát. Trích giới thiệu:
Đoạn nói về Trần Tử Ca:
Thuở xưa phó tổng Bình Dương,
Hóc Môn đốc phủ thị cường hiệp oai.
Lịnh hành tra khảo phép ngoài,
Dây da trói cẳng dân dài khúc cây.
Oan ưng sống chết trối thây,
Cứ làm hung bạo cho Tây nó dùng...
Giết quan trấn thủ đốc Ca
Kéo ra dinh ngoại ngã ba hành hình.
Mình thời bỏ dựa bên đình,
Đầu bêu hỏa thụ trước dinh hãi hùng.
Bởi vì chàng ở bất trung...
Đoạn nói về hai con Trần Tử Ca:
Hai chàng con đốc phủ Ca
Xóm làng bắt hết khảo tra sự tình.
Ai ai đều cũng thất kinh,
Trẻ già lo sợ như hình cò ma...
Đoạn nói về nghĩa quân sau khi khởi nghĩa thất bại:
Kẻ thời kết án lưu đày,
Người thời chém giết xử rày Hóc Môn.
Ba hồi vừa dứt tiếng cồn,
Hương Hớn, hương Quá phách hồn chơi mây...
...Ở đời thấy vậy chớ cười,
Kiến nguy trí mạng là người trung quân[9].
Còn như táo bạo hành hung,
Dầu mà có chết ai cùng có thương.
Trước sau kể hết cho tường
Tả ra một bổn làm gương cho đời.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]
1.      ^ Để cứu cho dân khỏi những trận đòn thù, Phan Văn Hớn và Nguyễn Văn Quá buộc phải nạp mình cho Pháp, sau đó bị tử hình. Những bậc cao niên ở đây kể lại, do mến mộ công ơn của Phan Văn Hớn nên bà con đổi tên lót của ông từ "Văn" ra "Công" [1]. Ngoài ra ông còn được gọi là Quản Hớn.
2.      ^ Hóc Môn là một huyện ở ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày trước, địa thế nơi đây vô cùng hiểm hốc: phía sau là bưng Tầm Lạc mênh mông, cỏ lấp đầu người, nước ngập ngang lưng và rừng liên tiếp lên tận Cao Miên, Lào. Mười Tám Thôn Vườn Trầu (Thập Bát Phù Viên), là vùng đất chuyên trồng trầu cau ở Hóc Môn. Đây là vùng cư ngụ của những người dân lưu tán từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc vào. Đa phần, họ đều giỏi võ nghệ, biết sống gắn bó với nhau và có truyền thống đấu tranh chống áp bức lâu đời...
3.      ^ Theo sách Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4), tr. 329.
4.      ^ Trần Tử Ca, người thôn Hanh Thông Tây, phủ Tân Bình. Nguyên xưa, Tử Ca làm phó tổng Bình Dương, sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (tháng 2 năm 1861), được Quản Sĩ thân Pháp tiến cử, Tử Ca làm tri huyện Bình Long.
5.      ^ Hưởng ứng dụ Cần Vương, tại Sài Gòn đã nổ ra hai cuộc khởi nghĩa, đó là cuộc khởi nghĩa của đề đốc Nguyễn Văn Bường vào ngày 22 tháng 1 năm 1885 và cuộc khởi nghĩa của Phan Văn Hớn vào ngày 8 tháng 2 năm 1885 (theo Địa chí văn hóa TP. HCM tập 1, tr. 265-267).
6.      ^ Ngày tháng khởi nghĩa các tác giả ghi khá thống nhất chỉ có Huỳnh Minh ghi là 3 giờ chiều ngày 27 tháng chạp năm Giáp Thân (tr. 225) và Biên niên sử 300 năm Sài Gòn–TP. HCM do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành thì ghi là ngày 4 tháng 2 năm 1885. Tuy nhiên, căn cứ vào câu vè: Hai lăm tháng chạp hỏa phần đồn nha (Vè Quản Hớn, Sài Gòn, Gia Định qua thơ văn xưa, tr. 332), thì hai thông tin sau chưa thật đúng.
7.      ^ Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, nhiều quân dân ở nhiều vùng khác, như: Bình Chánh, Bà Hom, An Lạc, Cần Giuộc, Cần Đước...kéo đến tập hợp ở Bà Quẹo, Tân sơn Nhất, nhưng vì đạo quân đi đầu tan vỡ nên họ cũng tự giải tán.
8.      ^ Lê Doãn Hài người ở chợ Hóc Môn, làng Tân Thới Nhì, tổng Tuy Thượng, huyện Bình Long. Năm 1874, ông Hài bị tù đày Côn Đảo 5 năm, ở đó ông có làm bài Côn Lôn truyện để nói lên tội ác của quân Pháp. Rồi sau khi chứng kiến cuộc khởi nghĩa của ông Hớn-ông Quá và làm xong bài vè trên, ông bèn dời nhà đến xã Tân Phú (nay thuộc huyện Đức Hòa, tỉnh Long An), làm nghề bốc thuốc và dạy học...Nguyên bản vè in trong sách Sài Gòn, Gia Định qua thơ văn xưa (1987, tr.332- 334). Trong sách Gia Định xưa của Huỳnh Minh có in một bài vè 52 câu (câu dài ngắn xen nhau, nhưng nhiều nhất là câu 4 chữ và 7 chữ) cùng chủ đề tên là Quản Hớn giết đốc phủ Ca (tr. 326-328).
9.      ^ Dịch nghĩa: Thấy cơn nguy, sẵn sàng hy sinh tánh mạng mình.
Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nhiều người soạn, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập 1, phần do Nguyễn Đình Đầu biên soạn, tr. 266-267). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1987.
  • Nguyễn Q. Thắng- Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 807.
  • Huỳnh Minh, Gia Định xưa. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006, tr.224-225.
  • Nhóm Nhân Văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4). Nhà xuất bản Trẻ, 2007, tr. 329-331.
  • Nguyễn Thị Thanh Xuân-Nguyễn Khuê-Trần Khuê, Sài Gòn, Gia Định qua thơ văn xưa. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr.332-334.

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

Xã Bà Điểm

Bà Điểm là một trong những xã trọng điểm của huyện Hóc Môn nổi tiếng với nghề trồng trầu và cau. Địa danh Bà Điểm - Hóc Môn còn gắn với một tên gọi khác mà ai ai cũng biết: 18 thôn vườn trầu. 
Vị trí của xã Bà Điểm nằm  cạnh quận 12, cùng nằm trên một con đường Phan Văn Hớn, ngăn cách bởi quốc lộ 1A
Khoảng mấy năm gần đây, tốc độ đô thị hoá của xã Bà Điểm tăng trưởng  nhanh chóng. Dân cư các tỉnh di cư về đây khá nhiều do quỹ đất khu vực này còn nhiều mà vị trí của xã Bà Điểm lại rất gần với khu vực dân cư đông đúc cầu Tham Lương, quận 12. Ngoài ra do giá đất còn khá rẻ so với các vị trí khác so với cùng khoảng cách  với khu vực và tiện ích thì cũng tốt do là khu dân cư hiện hữu lâu đời, nên những năm gần đây luồng di dân từ thành phố và các tỉnh đổ về khá lớn để sinh sống.  Có thể giới thiệu một số vị trí địa điểm kinh tế, văn hoá gần  chung quanh xã Bà Điểm như sau để tham khảo:
-          Chợ Bà Điểm, huyện Hóc Môn
-          Chợ Tân Xuân
-          Khu công nghiệp Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh
-          Công viên đá Nhật Bản
-          Vườn  trầu Bà Điểm
-          Vườn cây cảnh, Bonsai
-          Trại nuôi bò sữa

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Tân Xuân - một trong ba chợ đầu mối của TP

Khu dân cư đô thị nằm liền cạnh chợ
Quy hoạch chi tiết của dự án chợ đầu mối phía Bắc TP thuộc huyện Hóc Môn, bao gồm khu chợ đầu mối có diện tích 9,5 ha và khu dân cư nhà phố có diện tích 15 ha, tại khu vực ngã ba Củ Cải, xã Tân Xuân, tiếp giáp với xã Bà Ðiểm và Xuân Thới Thượng. Phía Tây Bắc và Nam của dự án này giáp với các khu dân cư hiện hữu, phía Ðông giáp Hương lộ 70 và phía Bắc giáp tuyến đường Xuyên Á  đang được thi công. Do có vị trí thuận lợi là nằm ở giữa các khu dân cư trung tâm của 3 xã đang có tốc độ đô thị hóa và mật độ dân cư đông nhất của huyện Hóc Môn, đồng thời tiếp giáp với các tuyến đường lớn như Quốc lộ 22, Nguyễn Thị Sóc... nên khu quy hoạch này sẽ trở thành đầu mối tiếp nhận, trao đổi và xuất nhập khẩu các nguồn nông sản từ Campuchia và các tỉnh như Tây Ninh, Long An... về TP.
Chợ nông sản được chia thành các khu vực như sau: Khu dịch vụ và dịch vụ công cộng, gồm cửa hàng ăn uống, nhà nghỉ, nhà ăn, nhà trọ và các khu dịch vụ tài chánh, ngân hàng, bưu điện...; khu nhà lồng chợ gồm 200 sạp (475 m2/sạp); khu xử  lý chất thải và xử lý nước thải; khu kho mát và sơ chế; bãi xe, công viên cây xanh... Mật  độ xây dựng khu này là 20% – 25%, tầng cao trung bình là 1,6 tầng. Còn khu dân cư  nằm kề dự kiến có khoảng 2.400 người với 475 căn nhà, gồm nhà liên kế, nhà liên kế có vườn, nhà liên kế phố chợ, diện tích khoảng 70-100 m2/căn..., mật độ xây dựng bình quân là 40%, tầng cao bình quân 3 tầng, chỉ tiêu đất sử dụng 55 m2/người. Tại đây sẽ có 4 khu vườn hoa, cây xanh công cộng, với tổng diện tích trên 1.400 m2. Ngoài các tuyến đường hiện hữu, khu dân cư và chợ đầu mối này sẽ có thêm 5 tuyến đường giao thông mới với lộ giới từ 10 – 25 m/tuyến.

Phan Văn Hớn

Phan Văn Hớn, người làng Tân Thới Nhứt (nay là xã Bà Điểm) huyện Hóc Môn[2] tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông là một nông dân văn hay, võ giỏi, có nhiều mưu trí, có tấm lòng hào phóng, ngay thẳng, biết thương yêu đồng bào. Ông thường đứng ra chống lại bọn cường hào và những người thân Pháp nên bị họ căm ghét.[3]
Năm 1879, đốc phủ Trần Tử Ca[4] tri huyện Bình Long (nay là huyện Hóc Môn) là một cộng sự đắc lực của thực dân Pháp, vu khống Phan Văn Hớn mưu loạn khiến ông bị đày ra Côn Đảo 5 năm.
Mãn hạn tù, ông về lại quê nhà, tổ chức hai trường đá gà: một điểm ở ngã tư An sương, một điểm ở xã Bà Điểm để che mắt đối phương và tiện liên hệ với những người chung chí hướng.
Sau một thời gian bí mật tập hợp dân nghèo, rèn sắm vũ khí, tích trữ lương thực...Nhân lời kêu gọi Cần Vương[5] của vua Hàm Nghi, Phan Văn Hớn quyết định khởi nghĩa và thành lập Ban chỉ huy gồm có: Phan Công Hớn (tổng lãnh binh), Nguyễn Văn Quá (chánh lãnh binh), Phạm Văn Hồ (phó lãnh binh), Phan Văn Võ (tức Cai Võ, lo việc nội ứng bên trong dinh huyện Bình Long).
Khởi nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]
Vào 25 tháng chạp năm Giáp Thân (ngày 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1885)[6] Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá (người Đức Hòa, Long An) cùng hơn ngàn nghĩa quân chia làm ba mũi, tấn công vào dinh huyện Bình Long.
Đốc phủ Trần Tử Ca rút lên lầu chống cự, nghĩa quân dùng rơm và dây đậu phộng khô có sẵn trong dinh, đem chất xung quanh nơi Ca ẩn náu rồi châm lửa đốt. Vợ Trần Tử Ca chết cháy. Tử Ca chạy thoát ra ngoài thì bị một nông dân bắt được giao cho quân khởi nghĩa. Đốc phủ Ca bị xử chém, đầu bêu lên cột đèn trước chợ Hóc Môn. Tết năm ấy, ở Hóc Môn có câu:
Mừng xuân có pháo, có nêu
Có đầu đốc phủ đem bêu cột cờ.
Sau đó nghĩa quân kéo xuống tấn công Sài Gòn. Tới Quán Tre (nay thuộc phường Đông Hưng Thuận, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh), đoàn quân chia ra làm hai, một đạo quân tiến thẳng vào Sài Gòn, một đạo quân trú ngoài nội thành chờ hiệu lệnh tiếp ứng.
Thất bại[sửa | sửa mã nguồn]
Tờ mờ sáng, đạo quân đầu tiên tới Bình Hòa (nay thuộc quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) thì bị một đội quân Pháp chặn đánh. Thua trận, nhiều nghĩa sĩ bị bắt. Nghe tin dữ, đạo quân thứ hai tự giải tán.[7]
Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá chạy thoát, để uy hiếp hai ông ra hàng, Pháp bắt nhiều người thân của hai ông và nhiều dân thường để khảo tra. Vì thương người, hai ông tự nạp mình.
Hai con trai của Trần Tử Ca là Trần Tử Long, Trần Tử Bản xin phép quan Pháp đến thôn Tân Thới Nhì, là nơi giam giữ ông Hớn, ông Hóa, cật vấn và tra khảo hai ông này rất tàn khốc. Cuối cùng, tất cả người bị Pháp bắt, được đem ra xét xử suốt từ ngày 31 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9 năm 1885, rồi tuyên 14 án tử hình trong đó có Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá.
Rạng sáng ngày 30 tháng 3 năm 1886 (tức ngày 25 tháng 2 âm lịch), hai ông bị hành hình và bị bêu đầu tại chợ Hóc Môn.
Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]
Nhân dân Việt đã đem thi hài ông Phan Văn Hớn về an táng ở địa phận ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn; rồi sau này lập đền thờ Phan Văn Hớn tại nghĩa trang tộc họ Phan cũng ở ấp trên, ngay trong thời kỳ Pháp còn cai quản miền Nam Việt Nam. Hàng năm giỗ ông vào ngày 25 tháng 2 âm lịch. Nghi thức lễ được cử hành như lễ tế thần Thành Hoàng vào dịp lễ Kỳ yên ở đình làng Việt.
Phạm Đại Hưng là một nhân sĩ, có thơ khen ngợi ông:
Thập bát phù viên khởi nghĩa đây,
Ra tay làm thử, rõ ra thầy.
Dân cày nhứt trí, nêu danh nghĩa
Hương chức đồng tâm quyết đấp xây.
Gậy gộc đánh tan phường chiếm đất
Củi rơm thiêu hủy bọn theo Tây.
Anh hùng lãnh đạo công ghi nhớ,
Con cháu phụng thờ miếu mộ xây.
Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]
Ông Lê Doãn Hài (1830-1914) là người ở chợ Hóc Môn[8], và là người chứng kiến đầu đuôi cuộc khởi nghĩa, đã sáng tác bài Vè ông Hớn, ông Quá giết đốc phủ Ca gồm 69 câu thơ lục bát. Trích giới thiệu:
Đoạn nói về Trần Tử Ca:
Thuở xưa phó tổng Bình Dương,
Hóc Môn đốc phủ thị cường hiệp oai.
Lịnh hành tra khảo phép ngoài,
Dây da trói cẳng dân dài khúc cây.
Oan ưng sống chết trối thây,
Cứ làm hung bạo cho Tây nó dùng...
Giết quan trấn thủ đốc Ca
Kéo ra dinh ngoại ngã ba hành hình.
Mình thời bỏ dựa bên đình,
Đầu bêu hỏa thụ trước dinh hãi hùng.
Bởi vì chàng ở bất trung...
Đoạn nói về hai con Trần Tử Ca:
Hai chàng con đốc phủ Ca
Xóm làng bắt hết khảo tra sự tình.
Ai ai đều cũng thất kinh,
Trẻ già lo sợ như hình cò ma...
Đoạn nói về nghĩa quân sau khi khởi nghĩa thất bại:
Kẻ thời kết án lưu đày,
Người thời chém giết xử rày Hóc Môn.
Ba hồi vừa dứt tiếng cồn,
Hương Hớn, hương Quá phách hồn chơi mây...
...Ở đời thấy vậy chớ cười,
Kiến nguy trí mạng là người trung quân[9].
Còn như táo bạo hành hung,
Dầu mà có chết ai cùng có thương.
Trước sau kể hết cho tường
Tả ra một bổn làm gương cho đời.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]
1.      ^ Để cứu cho dân khỏi những trận đòn thù, Phan Văn Hớn và Nguyễn Văn Quá buộc phải nạp mình cho Pháp, sau đó bị tử hình. Những bậc cao niên ở đây kể lại, do mến mộ công ơn của Phan Văn Hớn nên bà con đổi tên lót của ông từ "Văn" ra "Công" [1]. Ngoài ra ông còn được gọi là Quản Hớn.
2.      ^ Hóc Môn là một huyện ở ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày trước, địa thế nơi đây vô cùng hiểm hốc: phía sau là bưng Tầm Lạc mênh mông, cỏ lấp đầu người, nước ngập ngang lưng và rừng liên tiếp lên tận Cao Miên, Lào. Mười Tám Thôn Vườn Trầu (Thập Bát Phù Viên), là vùng đất chuyên trồng trầu cau ở Hóc Môn. Đây là vùng cư ngụ của những người dân lưu tán từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc vào. Đa phần, họ đều giỏi võ nghệ, biết sống gắn bó với nhau và có truyền thống đấu tranh chống áp bức lâu đời...
3.      ^ Theo sách Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4), tr. 329.
4.      ^ Trần Tử Ca, người thôn Hanh Thông Tây, phủ Tân Bình. Nguyên xưa, Tử Ca làm phó tổng Bình Dương, sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (tháng 2 năm 1861), được Quản Sĩ thân Pháp tiến cử, Tử Ca làm tri huyện Bình Long.
5.      ^ Hưởng ứng dụ Cần Vương, tại Sài Gòn đã nổ ra hai cuộc khởi nghĩa, đó là cuộc khởi nghĩa của đề đốc Nguyễn Văn Bường vào ngày 22 tháng 1 năm 1885 và cuộc khởi nghĩa của Phan Văn Hớn vào ngày 8 tháng 2 năm 1885 (theo Địa chí văn hóa TP. HCM tập 1, tr. 265-267).
6.      ^ Ngày tháng khởi nghĩa các tác giả ghi khá thống nhất chỉ có Huỳnh Minh ghi là 3 giờ chiều ngày 27 tháng chạp năm Giáp Thân (tr. 225) và Biên niên sử 300 năm Sài Gòn–TP. HCM do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia ấn hành thì ghi là ngày 4 tháng 2 năm 1885. Tuy nhiên, căn cứ vào câu vè: Hai lăm tháng chạp hỏa phần đồn nha (Vè Quản Hớn, Sài Gòn, Gia Định qua thơ văn xưa, tr. 332), thì hai thông tin sau chưa thật đúng.
7.      ^ Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, nhiều quân dân ở nhiều vùng khác, như: Bình Chánh, Bà Hom, An Lạc, Cần Giuộc, Cần Đước...kéo đến tập hợp ở Bà Quẹo, Tân sơn Nhất, nhưng vì đạo quân đi đầu tan vỡ nên họ cũng tự giải tán.
8.      ^ Lê Doãn Hài người ở chợ Hóc Môn, làng Tân Thới Nhì, tổng Tuy Thượng, huyện Bình Long. Năm 1874, ông Hài bị tù đày Côn Đảo 5 năm, ở đó ông có làm bài Côn Lôn truyện để nói lên tội ác của quân Pháp. Rồi sau khi chứng kiến cuộc khởi nghĩa của ông Hớn-ông Quá và làm xong bài vè trên, ông bèn dời nhà đến xã Tân Phú (nay thuộc huyện Đức Hòa, tỉnh Long An), làm nghề bốc thuốc và dạy học...Nguyên bản vè in trong sách Sài Gòn, Gia Định qua thơ văn xưa (1987, tr.332- 334). Trong sách Gia Định xưa của Huỳnh Minh có in một bài vè 52 câu (câu dài ngắn xen nhau, nhưng nhiều nhất là câu 4 chữ và 7 chữ) cùng chủ đề tên là Quản Hớn giết đốc phủ Ca (tr. 326-328).
9.      ^ Dịch nghĩa: Thấy cơn nguy, sẵn sàng hy sinh tánh mạng mình.
Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nhiều người soạn, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập 1, phần do Nguyễn Đình Đầu biên soạn, tr. 266-267). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1987.
  • Nguyễn Q. Thắng- Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 807.
  • Huỳnh Minh, Gia Định xưa. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin tái bản năm 2006, tr.224-225.
  • Nhóm Nhân Văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4). Nhà xuất bản Trẻ, 2007, tr. 329-331.
  • Nguyễn Thị Thanh Xuân-Nguyễn Khuê-Trần Khuê, Sài Gòn, Gia Định qua thơ văn xưa. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr.332-334.
Trình đơn chuyển hướng